Elementor #1321
Sơn Mài Là Chất Liệu Hội Họa Độc Đáo Của Việt Nam: Hành Trình 100 Năm Kỷ Nguyên Hội Họa Sơn Mài Việt Nam
Những tác phẩm tranh sơn mài cùng với tranh lụa từ lâu đã góp phần quan trọng định hình nên diện mạo của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Trong đó, sơn mài giữ một vị trí cốt lõi và có những thời điểm mang tính tiên phong, đi trước trong nghệ thuật tạo hình nước nhà. Danh họa Tô Ngọc Vân từng khẳng định trong bài thuyết trình năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc: “Danh từ sơn mài là một danh từ mới đặt mươi năm nay để chỉ một kỹ thuật trước kia gọi là sơn ta nhưng đã biến hóa hẳn do nghệ thuật mài sơn”. Trải qua thời gian, Hành trình 100 năm kỷ nguyên hội hoạ sơn mài Việt Nam đã chứng minh sức sống mãnh liệt của một chất liệu hội họa độc bản trên thế giới.
Nguồn Gốc Lịch Sử: Sơn Mài Là Chất Liệu Hội Họa Độc Đáo Của Việt Nam Từ Ngàn Năm Trước
Nhiều tài liệu lịch sử ghi nhận ông tổ nghề sơn Việt Nam là cụ Trần Lư (Trần Tướng Công, sinh năm 1470), người đã truyền nghề lại cho dân làng Bình Vọng (nay thuộc xã Văn Bình, huyện Thường Tín, TP Hà Nội). Tuy nhiên, các kết quả khai quật khảo cổ học từ những mộ táng ở Hải Phòng, Hà Nội, Hải Dương cho thấy nghề sơn đã xuất hiện tại Việt Nam từ trước đó rất lâu. Kỹ thuật phủ sơn, dát vàng trên tượng và điêu khắc Phật giáo đã phát triển mạnh mẽ từ thời Lý (thế kỷ 11-12) và trở thành truyền thống kéo dài đến nay.
Nghệ nhân Việt Nam xưa đã sở hữu kỹ thuật hom, bó sơn, pha chế nhựa sơn và biết sáng tạo ra những mẫu trang trí đắp nổi, chạm trổ tinh xảo. Tuy vậy, lúc bấy giờ nghề sơn mới dừng ở mức phục vụ điêu khắc hoặc trang trí vật dụng cung đình, đồ thờ cúng dân gian. Những bức tranh vẽ bằng sơn ta sớm nhất còn lưu giữ được có niên đại cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 như tranh chân dung vua Lý Nam Đế và Hoàng hậu, bộ tranh tố nữ ở đình Lỗ Hạnh (Bắc Giang). Điểm chung của giai đoạn này là lối vẽ màu đơn thuần, bóc tách rành mạch trên nền son đỏ, mang tính chất trang trí thủ công.
Bảo vật quốc gia tranh sơn mài “Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ” của danh họa Nguyễn Sáng. Ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
Cột Mốc Biến Đổi Chất Liệu Thủ Công Thành Ngôn Ngữ Hội Họa Hiện Đại
Phải đến đầu thế kỷ 20, khi Trường Mỹ thuật Đông Dương ra đời, một chương mới cho Hành trình 100 năm kỷ nguyên hội hoạ sơn mài Việt Nam mới thực sự bắt đầu. Với chủ trương tôn trọng truyền thống bản địa kết hợp tư duy hiện đại, Hiệu trưởng Victor Tardieu đã cho phép họa sĩ Joseph Inguimberty cùng các học trò nghiên cứu, cải biến kỹ thuật sử dụng sơn ta để biến nó thành một chất liệu hội họa học thuật. Từ kỹ thuật mài sơn đặc trưng, tên gọi “sơn mài” chính thức ra đời.
Về mặt chất liệu, nếu ban đầu các họa sĩ bị giới hạn bởi bảng màu cổ truyền (cánh gián, son đỏ từ thần sa, then đen, vàng, bạc, vỏ trai, vỏ trứng) thì qua nhiều thể nghiệm, các kỹ thuật vẽ chìm, đắp nổi, rắc bột vàng bạc quỳ đã tạo ra những hòa sắc tinh tế. Đặc biệt, sự xuất hiện của màu trắng titane có khả năng dung hợp với sơn đã mở ra một cuộc cách mạng rộng lớn cho bảng màu sơn mài.
Quy trình chế tác “ngược” độc đáo: Để thực hiện một bức tranh sơn mài, họa sĩ phải can đường nét từ phác thảo xuống vóc, tô màu các chi tiết trước rồi quét trùm nền phông sau cùng. Sau khi sơn khô hoàn toàn, họa sĩ dùng đá hoặc than mài với nước để mài phẳng mặt tranh. Khi lớp màu phía trên mỏng dần, các chi tiết vẽ ban đầu sẽ ẩn hiện lớp lớp có chiều sâu. Công đoạn cuối cùng là đánh bóng hoàn toàn bằng tay.
Những Thành Tựu Vàng Son Trong Hành Trình 100 Năm Kỷ Nguyên Hội Họa Sơn Mài Việt Nam
Sự kết hợp giữa quy luật tạo hình châu Âu (không gian xa gần, bố cục, dựng hình) với hội họa truyền thống Á Đông đã giúp sơn mài Việt Nam đạt nhiều thành tựu quốc tế. Minh chứng rõ nhất là trong tổng số 8 tác phẩm hội họa được công nhận là Bảo vật quốc gia của Việt Nam, có đến 6 bức tranh được vẽ bằng chất liệu sơn mài.
Giai đoạn đặt nền móng và sự thăng hoa của Nguyễn Gia Trí
Những người đầu tiên tham gia vào địa hạt này là Trần Quang Trân, Lê Phổ, Phạm Hậu, Nguyễn Khang… Nhưng phải đến giai đoạn 1935 – 1945, khi tìm ra phương thức tạo lớp không gian và sắc độ, các họa sĩ mới thực sự diễn tả được hiện thực sâu sắc. Nguyễn Gia Trí là người thành công nhất khi gia giảm lượng cánh gián, nhào nặn, chôn vùi rồi mài moi ra vàng bạc tạo nên chiều sâu mảng khối. Các tác phẩm tiêu biểu của ông gồm có: “Lùm tre nông thôn”, “Bình phong”, “Vườn xuân Trung Nam Bắc”, “Bên hồ Hoàn Kiếm”…
Sự bùng nổ trong kháng chiến và hòa bình
Dù điều kiện chiến khu thiếu thốn vật liệu, chất liệu sơn mài vẫn được khẳng định sức sống qua các tác phẩm có giá trị cao. Đến năm 1958, tại Triển lãm mỹ thuật các nước xã hội chủ nghĩa ở Moscow (Liên Xô), tranh sơn mài Việt Nam đã thu hút sự chú ý và được bạn bè quốc tế hết lời tán dương. Giai đoạn này ghi dấu nhiều kiệt tác giải phóng khả năng tạo hình của sơn mài như:
“Tát nước đồng chiêm” (Trần Văn Cẩn)
“Nhớ một chiều Tây Bắc” (Phan Kế An)
“Giữ lấy hòa bình” (Lê Quốc Lộc)
“Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ” (Nguyễn Sáng)
“Nhà tranh gốc mít” (Nguyễn Văn Tỵ)
“Tre” (Trần Đình Thọ)
Sơn Mài Đương Đại: Sức Sống Mãnh Liệt Kế Thừa Di Sản
Từ thời kỳ Đổi mới (năm 1986) đến nay, sơn mài vẫn chứng minh vị thế độc tôn của mình. Nhiều họa sĩ trẻ vẫn đam mê theo đuổi dòng tranh này bất chấp quy trình chế tác nặng nhọc, đòi hỏi sự kiên trì cao độ nhờ vào tính chất “mở” và khả năng khơi gợi sự khám phá sáng tạo.
Ngày nay, bảng màu sơn mài đã phát triển lên tới hàng trăm màu sắc khác nhau, dễ dàng đáp ứng mọi cá tính và ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại của người nghệ sĩ trên chất liệu truyền thống. Sơn mài vô cùng phù hợp với tâm hồn Á Đông – nơi mạnh về diễn đạt đời sống nội tâm bên trong, từ sự hỗn độn của thế giới khách quan đến vẻ đẹp tĩnh lặng đậm chất thiền định.
Lời Kết
Có thể khẳng định, sơn mài là chất liệu hội họa độc đáo của Việt Nam, mang trong mình dòng máu truyền thống nhưng luôn sẵn sàng đối thoại với nghệ thuật đương đại thế giới. Hành trình 100 năm kỷ nguyên hội hoạ sơn mài Việt Nam vẫn đang tiếp tục được viết tiếp bởi những thế hệ họa sĩ kiên trì và đam mê.